Aristotle là người luôn suy nghĩ rạch ròi, nhưng mức độ khó trong các tác phẩm còn tồn tại của ông khiến các học giả cho rằng chúng chính là những ghi chú cho các bài diễn thuyết, sách, hoặc là những ghi chú của chính Aristotle hay của một sinh viên nào đó ghi lại những lời dạy của thẩy mình. Tuy nhiên, một giả thiết phổ biến, thậm chí là một giả thiết mang tính triết học cũng còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, hình thức đọc này không tuân theo quy tắc nào.
Ví dụ, trong suy nghĩ của một nhà nghiên cứu nguyên tử thường tồn tại một cấu trúc phức tạp mang tính giả thuyết về hiện thực, khiến ông ta nhìn nhận một số dữ kiện theo hướng khác với một người nguyên thuỷ. Đọc những cuốn sách này sẽ không quá khó khăn nếu bạn luôn tâm niệm rằng mục đích chủ yếu không phải để trở thành chuyên gia mà chỉ là hiểu vấn đề. Bạn có thể tăng tốc độ đọc lên gấp hai, ba lần trước khi bạn nhận thức được điều này.
Ông ta có thể đã đọc qua một hoặc rất nhiều tài liệu mà chắc chắn những độc giả bình thường gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận. Và mọi mối liên hệ tồn tại giữa từ và thuật ngữ cũng tồn tại giữa cụm từ và thuật ngữ. Tuy nhiên, sự lý tưởng ở đây cũng chỉ là tương đối.
Bạn không thể đọc hiểu mà đầu óc không tỉnh táo. Điều này tương đối dễ thực hiện. Nhưng bạn luôn cần những nguyên tắc đọc mới khi bạn chuyển từ cấp độ đọc phân tích lên cấp độ đọc đồng chủ đề.
Khi nói chuyện nghiêm túc, chúng ta muốn có thể thyết phục người khác hoặc tạo cho họ niềm tin vào những vấn đề mình nói. Theo họ, điều này là không cần thiết. Thứ hai, việc mọi người bất đồng quan điểm không có gì quan trọng.
Chúng có thể cho chúng ta cảm tưởng rằng trí óc của ta hoạt động vì chúng yêu cầu ta phản ứng trước những kích thích từ bên ngoài. Tác giả có thể dùng dấu trích dẫn hoặc chữ in nghiêng để đánh dấu các từ đó giúp người đọc dễ phát hiện; hoặc hướng sự chú ý của độc giả vào từ đó bằng cách đề cập các nghĩa khác nhau của từ và chỉ rõ cách dùng trong những tình huống cụ thể; hoặc tác giả có thể nhấn mạnh bằng cách định nghĩa vật được gọi tên bằng từ đó. Chỉ có người từng trải qua tình huống như vậy mới có thể làm được.
Ví dụ như cơ thể không phát triển mãi cả về sức mạnh và kỹ năng. Vì thế, nếu bạn đã cố gắng đọc các tác phẩm khoa học kinh điển, bạn sẽ không gặp nhiều khó khăn khi đọc các tác phẩm này. Và thỉnh thoảng, các đoạn của cùng một tác giả bình luận về các bài của một tác giả khác lại giúp người đọc hiểu thêm về tác giả có bài được bình luận kia.
Bằng năng lực, trí tuệ của mình, bạn phải tìm cách làm sáng tỏ những con chữ trước mắt sao cho từ chỗ hiểu ít, bạn dần hiểu nhiều hơn. Trong nhiều trường hợp, chúng ta không thể áp dụng những quy tắc này hoàn toàn giống như khi đọc một cuốn sách, nhưng việc điều chỉnh chúng cho phù hợp với loại tài liệu đang đọc không có gì khó. Chúng chỉ là những tác phẩm lý thuyết - những công trình khoa học.
Mỗi cuốn sách thực hành đều có sự pha trộn giữa hùng biện và tuyên truyền. Hoặc có thể bạn sẽ thấy những cuốn sách vừa thuộc loại này vừa thuộc loại khác. Họ lưu giữ những gì mình đọc bằng cách học thuộc miệng và nói lại một cách vô nghĩa.
Một ví dụ khác là bài thơ trữ tình To his coy mistress (Gửi tới người yêu bẽn lẽn của anh ấy) của Marvell cũng có nội dung tương tự. Tuy nhiên, chúng tôi rất nghiêm túc khi sử dụng từ này. Hầu hết các bài thơ hay đều có mâu thuẫn.